^Về đầu trang
foto1 foto2 foto3 foto4 foto5

Việt Nam có dân số hơn 90 triệu người, bao gồm 54 dân tộc khác nhau có nguồn gốc văn hóa lịch sử phong phú và nghệ thuật dân gian thú vị. Cả nước có hơn 1.000 di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc đã được chính thức phân loại là "Di sản". Năm trong số các di tích này đã được công nhận là di sản văn hoá thế giới được UNESCO (United Nations Educational và Tổ chức Văn hóa Khoa học), trong đó có Vịnh Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, cố đô Huế, phố cổ Hội An, và thánh địa Mỹ Sơn. Điều này sẽ trở nên rõ ràng từ những chuyến du ngoạn đến các địa danh thuộc Việt Nam, là một đất nước có lịch sử lâu đời.


Cổng Thông Tin Du Lịch
Liên hệ: +84 9 44 54 11 77
E-mail: ddthoa@gmail.com

Phong canh Viet Nam

Vietnam Tours

Vinh danh giá trị Việt

Chọn ngôn ngữ

Khách ghé thăm

1138931
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
179
806
3347
4552
15561
24417
1138931

Forecast Today
240

5.62%
8.87%
6.62%
0.99%
0.07%
77.83%
Online (15 minutes ago):46
46 guests
no members

Your IP:54.198.134.32

Thống kê

Số lần xem bài viết
208264

Sơ lược lịch sử

Vào đầu thời đại đồ đồng, các nhóm bộ tộc Việt đã định cư ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam. Có khoảng 15 nhóm bộ lạc Lạc Việt sống chủ yếu ở vùng cao nguyên phía Bắc và đồng bằng, và một chục nhóm Âu Việt sống ở Việt Bắc, khu vực phía Bắc của Việt Nam cũ. Vào thời điểm đó, hai bộ lạc dân tộc Lạc Việt và Âu Việt sống chung với nhau trong nhiều lĩnh vực với cư dân khác.
 
Do nhu cầu kiểm soát lũ, chống xâm lược, trao đổi văn hóa và kinh tế, các bộ lạc sinh sống gần nhau có xu hướng tập hợp và tích hợp vào một nhóm hỗn hợp lớn hơn. Trong số các bộ lạc Lạc Việt là Văn Lang, cũng là bộ lạc mạnh nhất. Các nhà lãnh đạo bộ lạc này kết hợp tất cả các bộ lạc Lạc Việt với nhau để thành lập quốc gia Văn Lang, tự xưng danh là Hùng Vương.
 
Các thế hệ tiếp theo theo bước chân của cha mình và giữ tên gọi này. Dựa trên tài liệu lịch sử, các nhà nghiên cứu mô tả tương ứng vị trí của quốc gia Văn Lang đến các khu vực ngày nay miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam, cũng như, phía Nam ngày nay Quảng Tây (Trung Quốc). Quốc gia Văn Lang kéo dài khoảng từ đầu thiên niên kỷ đầu tiên  trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên.
 
Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng, vị vua của nhà Tần (Trung Quốc), xâm chiếm đất đai của các bộ lạc Việt. Thục Phán, các nhà lãnh đạo của liên minh các bộ lạc Âu Việt được tôn trọng như lãnh đạo của cuộc kháng chiến chống kẻ thù Tần mà sau này, trong 208 trước Công nguyên, đã buộc phải rút lui. Với uy thế của mình, Thục Phán xưng là An Dương Vương và Âu Lạc thành lập quốc gia với các nhóm bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt.
 
Trong năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà, vua của Nam Việt (Trung Quốc), xâm chiếm nước Âu Lạc. Sự kháng cự của An Dương Vương thất bại ngay sau khi cuộc xâm lược này. Kết quả là, các phong kiến ​​phương Bắc thay nhau thống trị đất nước trong bảy thế kỷ tiếp theo, thiết lập chế độ hà khắc của họ ở trong nước và phân chia đất nước thành các khu vực hành chính và các huyện với tên quen thuộc. Tuy nhiên, tên của đất nước Âu Lạc sẽ không bị xóa khỏi tâm trí của nhân dân, cuộc sống hàng ngày của họ.
 
Vào mùa xuân năm 542, Lý Bí vùng lên kháng chiến và đẩy lùi chính quyền Trung Quốc, giải phóng lãnh thổ. Ông tuyên bố mình là Vua nước Vạn Xuân vào tháng Hai 544, thừa nhận tính phức hợp của quốc gia và tinh thần độc lập sống trong hòa bình vĩnh cửu. Tuy nhiên, sự tồn tại của chính quyền Lý Bí là rất ngắn. Ông đã bị đánh bại bởi quân đội triều đình Trung Quốc, đất nước trở lại sự thống trị của phong kiến ​​Trung Quốc một lần nữa trong 602. Quốc hiệu Vạn Xuân đã được khôi phục chỉ sau khi chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng do Ngô Quyền đánh tan năm 938. Chiến thắng này đánh dấu sự kết thúc giai đoạn thống trị của Trung Quốc tại Việt Nam.
 
Trong năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh bại mười hai lãnh chúa và thống nhất đất nước. Ông tuyên bố mình là Vua và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Tên này vẫn trong suốt triều đại Đinh (868-979), triều đại Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).
 
Vào năm 1054, một ngôi sao sáng rực xuất hiện trên bầu trời trong nhiều ngày, được coi là một điềm tốt. Kết quả là, các vua Lý đã thay đổi tên của đất nước Đại Việt. Tên này vẫn cho đến cuối triều đại nhà Trần.
 
Trong tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi của vua Trần Thiếu Đế, thành lập triều đại nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Ðại Ngu, có nghĩa là hòa bình trong ngôn ngữ cổ đại. Tên này chỉ kéo dài trong thời gian rất ngắn, cho đến tháng 4 năm 1407, khi giặc Minh xâm lược Đại Ngu và đánh bại nhà Hồ.
 
Sau 10 năm kháng chiến chống nhà Minh (Trung Quốc) chiếm đóng (1418-1427) , Lê Lợi đã đạt được một thắng lợi chiến thắng. Năm 1428, Lê Lợi tuyên bố mình là Vua của triều đại Lê và thay đổi tên của đất nước trở lại Đại Việt. Tại thời điểm này, lãnh thổ của Việt Nam đã mở rộng đến các khu vực ngày nay Huế. Tên Ðại Việt được giữ dưới triều Lê (1428-1787) và triều đại Tây Sơn (1788-1810).
 
Năm 1802, Nguyễn Ánh tuyên bố đăng quang để trở thành Nguyễn vua đầu tiên, bắt đầu triều Nguyễn và thay đổi tên của đất nước Việt Nam. Tên này đã được chính thức công nhận trong nhiều cơ quan ngoại giao vào năm 1804. Tuy nhiên, từ Việt Nam đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử.
 
Đầu tiên, vào thế kỷ 14, trong một cuốn sách với tiêu đề Việt Nam Các Chi, do Bác sĩ Hồ Tông Thoc. Sau đó, trong cuốn sách của học giả Nguyễn Trãi quyển Dư Địa Chí vào đầu thế kỷ 15, từ Việt Nam đã được tái xuất hiện nhiều lần. Trạng Trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) đã viết trên trang đầu tiên của tác phẩm của ông Trình Tiên Sinh Quốc ngữ như sau: ... Việt Nam đã xây dựng nền tảng của nó... Những lời Việt Nam cũng đã được tìm thấy trong một số tấm bia khắc của thế kỷ 17 ở chùa Bảo Lâm, Hải Phòng (1558) , tại chùa Cam Lộ, tỉnh Hà Tây (1590) , tại chùa Phúc Thành, Bắc Ninh (1664)... Đặc biệt, trong câu đầu tiên trên tấm bia Thủy Môn Đình (1670) tại cột mốc trên biên giới ở Lạng Sơn, nó đã được viết: Đây là cửa ngõ của Việt Nam mà bảo vệ biên giới phía Bắc ...
 
Về ý nghĩa, có rất nhiều lý thuyết để chứng minh những lời Việt Nam được tạo ra bằng cách kết hợp hai yếu tố chủng tộc và địa lý, mà được hiểu là người Việt từ phía nam. Trong suốt triều đại của vua Minh Mạng (1820-1840), tên của đất nước đã được thay đổi thành Đại Nam, nhưng Việt Nam vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều tác phẩm văn học, công việc kinh doanh dân sự và quan hệ xã hội.
 
Sau chiến thắng của Cách mạng tháng Tám vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, đã hoàn toàn cuốn đi áp bức thuộc địa phong kiến ​​và thực dân Pháp tại Việt Nam, bắt đầu một kỷ nguyên mới của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập của quốc gia và tên quốc gia là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào ngày 02 tháng 9 1945. Mặc dù Việt Nam bị chiến tranh và chia ly trong vòng 30 năm sau, những lời thiêng liêng Việt Nam đã rất phổ biến được sử dụng từ bắc đến nam, và đã in sâu trong trái tim của nhân dân Việt Nam.
 
Sau giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn bộ đất nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất. Trong cuộc họp đầu tiên của quốc hội của Việt Nam thống nhất vào ngày 02 tháng 7 năm 1976, chính phủ hợp nhất đã quyết định đặt tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1980, và năm 1992, tiếp tục khẳng định mình của tên chính thức của đất nước, về mặt pháp lý và thực tế.

Google Play

Nhà tài trợ

Đối tác

Copyright   © 2013 Cổng thông tin du lịch
Đang phát triển / In construction / En train de construction / 設定中 Bet365 Casino